Nguyễn Thị Hoàng Yến 1, Trần Thị Hương Giang 2, Vũ Thị Thu Trà 3
1 Bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Bộ môn Thú y cộng đồng, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tính cấp thiết
Bọ chét là ngoại ký sinh trùng gây ra tác hại lâm sàng nặng nề nhất ở chó, mèo. Hai loài bọ chét thường gặp là ở chó mèo là Ctenocephalides felis và C. canis, trong đó C. felis ký sinh phổ biến hơn C. canis ở phần lớn các vùng, chúng có thể ký sinh và gây bệnh ở cả chó và mèo. Bên cạnh tác hại ký sinh và gây bệnh, bọ chét còn đóng vai trò là vật trung gian truyền rất nhiều bệnh như ký sinh trùng đường máu (Rickettsia spp.) và vi khuẩn (Bartonella sp., Borrelia sp.,). Ngoài ra, chúng còn đóng vai trò là vật chủ trung gian của sán dây Dipylidium caninum (sán hạt dưa) – loài sán dây ký sinh phổ biến ở chó, mèo và có thể truyền lây sang người. Ở Việt Nam cũng có một vài nghiên cứu về định danh loài bọ chét ký sinh ở chó, mèo và một số động vật khác, đồng thời cũng xác định một số tác nhân gây bệnh do bọ chét truyền. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào phân lập sán dây Dipylidium caninum ký sinh ở bọ chét.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm định danh loài bọ chét Ctenocephalides ở chó và mèo; đồng thời phát hiện sán dây Dipylidium caninum ở bọ chét bằng các kỹ thuật sinh học phân tử (PCR và giải trình tự gen).
Phương pháp nghiên cứu:
Chín mươi bọ chét trưởng thành thu từ chó và mèo được chiết tách DNA để sử dụng cho phản ứng PCR. Hai cặp mồi được sự dụng trong nghiên cứu là 18S-F và 18S-R (dùng để nhân đoạn gen 18S rDNA của bọ chét) và 28S-F và 28S-R (dùng để nhân đoạn gen 28S rDNA của Dipylidium caninum). Đối với mỗi loại vật chủ sẽ lựa chọn 01 sản phẩm của phản ứng PCR dương tính với bọ chét và sán dây để giải trình tự. Kết quả giải trình tự sẽ được xử lý, xây dựng cây phát sinh loài để định danh loài bọ chét và sán dây ký sinh.
Kết quả chính:
Dựa vào phản ứng PCR, đã khuếch đại thành công gen 18S rDNA có kích thước 1200 bp và 28S rDNA có kích thước 650 bp, tương ứng với kích thước mong đợi. Kết quả giải trình tự đã định danh được loài bọ chét ký sinh ở chó là C. canis và ở mèo là C. felis. Đã xác định được 4/20 mẫu gộp của bọ chét có chứa DNA của Dipylidium caninum. D. caninum phân lập từ bọ chét chó có tỷ lệ tương đồng đạt 99,7 và 100% với trình tự có mã số là AF02312 và MH040832, đây là hai trình tự của D. caninum phân lập từ đốt chửa thu được từ mẫu phân của chó và được định danh là “D. caninum canine gentoype”. D. caninum phân lập từ bọ chét mèo có tỷ lệ tương đồng chỉ đạt 93,4 và 94.4% với hai trình tự tham khảo ở trên. Điều này chứng tỏ D. caninum phân lập từ bọ chét chó thuộc “D. caninum canine genotype”, còn D. caninum phân lập từ bọ chét mèo thuộc “D. caninum feline genotype”.
Kết luận
Loài bọ chét được định danh trong nghiên cứu là C. felis ký sinh ở mèo và C. canis ký sinh ở chó. Chủng D. caninum phân lập từ bọ chét mèo thuộc “D. caninum feline genotype” và chủng D. caninum phân lập từ chó thuộc “D. caninum canine genotype”. Đây là nghiên cứu đầu tiên báo cáo về việc phân lập D. caninum từ bọ chét ở Việt Nam.
Từ khóa: Ctenocephalides sp., Dipylidium caninum, dog, cat, Vietnam
Hình 1: A. Kết quả khuếch đại đoạn gen 18S rDNA có kích thước 1200 bp từ bọ chét. (B) Kết quả khuếch đại đoạn gen 28S rDNA có kích thước 650 bp từ D. caninum ký sinh trong bọ chét. M: thang chuẩn 100bp; lane 1-10 (A), 1-4 (B): mẫu xét nghiệm. Mũi tên màu đỏ chỉ vị trí của band có kích thước 500bp.

Hình 2. Mối quan hệ phát sinh loài giống Ctenocephalides genus trong nghiên cứu với các trình tự đạt được từ GenBank (NCBI)dựa vào đoạn gen 18S rDNA. “n/a” là ký hiệu thể hiện không có thông tin về loài vật chủ

Hình 3: Mối quan hệ phát sinh loài giữa các chủng Dipylidium caninum trong nghiên cứu với các trình tự tham khảo từ GenBank (NCBI) dựa vào trình tự gen 28S rDNA. “n/a” là ký hiệu thể hiện không có thông tin về loài vật chủ

Link bài báo: https://www.ijvets.com/pdf-files/24-704.pdf