Sán dây ký sinh trên mèo rất đa dạng về thành phần loài, tuy nhiên nhiều loài trong số chúng có đặc điểm hình thái tương đồng. Để định danh ký sinh trùng nói chung và sán dây nói riêng, phương pháp quan sát hình thái được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi thời gian, nhân lực và đặc biệt là kỹ năng của người làm nghiên cứu. Một nhược điểm nữa của phương pháp này là không định danh được ký sinh trùng ở mức độ loài nếu chúng có sự tương đồng về hình thái, dẫn tới một số trường hợp có thể định danh sai.
Đề tài cấp Học viện mã số T2025-9-32 với tên đề tài là: Định danh và đánh giá đặc điểm phân tử của một số loài sán dây ký sinh ở mèo tại Hà Nội và khu vực phụ cận, nhóm nghiên cứu đã định danh ba loài sán dây ký sinh ở mèo, bao gồm Taenia taeniaeformis, Dipylidium caninum và Spirometra mansoni. Trong đó, T. taeniaeformis là loài chiếm ưu thế tại khu vực nghiên cứu và là báo cáo đầu tiên ghi nhận sự lưu hành của loài này ở mèo tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng xác thực khẳng định S. mansoni là loài Spirometra đang lưu hành tại Việt Nam.
Phân tích đặc điểm di truyền phân tử cho thấy sự đồng lưu hành của cả hai kiểu gen “D. caninum feline genotype” và “D. caninum canine genotype” ở chó và mèo, gợi ý khả năng lây truyền chéo của D. caninum giữa các vật chủ. Đối với T. taeniaeformis, gen nad1 thể hiện mức độ biến dị cao hơn so với cox1, cho thấy tiềm năng cung cấp độ phân giải di truyền tốt hơn trong các phân tích cấu trúc quần thể và quan hệ phát sinh loài. Kết quả cũng ghi nhận mức độ đa dạng di truyền đáng kể của S. mansoni, phù hợp với xu hướng phân bố rộng rãi của loài này trên phạm vi toàn cầu.



Kết quả của nghiên cứu là thông tin quan trọng giúp cho chủ nuôi mèo cần có kế hoạch phòng trừ bệnh sán dây nói riêng và bệnh do ký sinh trùng nói chung cho mèo nhằm giảm thiểu nguy cơ mầm bệnh phát tán ra ngoài môi trường, cũng như nguy cơ mầm bệnh truyền lây sang người và các động vật khác.
PGS.TS. Nguyễn Thị Hoàng Yến – Khoa Thú y
Ban Khoa học Công nghệ

English