Nghiên cứu đặc điểm sinh bệnh học của bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt tại Việt Nam

Đặng Hữu Anh1*, Mai Thị Ngân1, Lại Thị Lan Hương1, Nguyễn Văn Giáp1, Trần Thị Hương Giang1, Vũ Đức Hạnh1, Lê Văn Trường1, Vũ Thị Ngọc1, Cao Thị Bích Phượng1, Nguyễn Hữu Huân2, Huỳnh Thị Mỹ Lệ1

 1 Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Công ty Cổ phần thuốc thú y Trung ương NAVETCO
* Tác giả liên hệ email: dhanh@vnua.edu.vn

GIỚI THIỆU: Virus Tembusu (TMUV) là một Arbovirus mới nổi (hay còn gọi là arthropod-borne virus, virus truyền qua động vật chân đốt), được phân lập lần đầu tiên vào năm 1955 ở loài muỗi Culex tritaeniorhynchus thu được tại Kuala Lumpur – Malaysia; và sau đó ghi nhận ở một số nước Đông Nam Á. Virus không được quan tâm nghiên cứu cho đến vụ dịch do TMUV lần đầu tiên xảy ra năm 2010 ở vịt. TMUV gây một số ổ dịch, và có hiện tượng tái bùng phát ở Trung Quốc và Đông Nam Á, cho thấy sự mới nổi và lưu hành virus ở ngoài những vùng đã có bệnh trước đây. Với thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra cho ngành chăn nuôi gia cầm, TMUV được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm mới nổi (emerging infectious disease). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả biểu hiện bệnh do virus Tembusu gây ra ở vịt trong các trường hợp đơn nhiễm virus Tembusu và đa nhiễm với vi sinh vật khác phục vụ cho việc chẩn đoán lâm sàng định hướng cho việc lấy mẫu xét nghiệm bệnh và can thiệp dịch.

NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ:

Virus Tembusu có thể nhiễm ghép với những vi sinh vật khác với 13 tổ hợp đồng nhiễm khác nhau với virus (dịch tả vịt, Parvovirus, viêm gan vịt, cúm gia cầm, Reovirus) và vi khuẩn (Escherichia coli, Salmonella spp.Riemerella anatipestifer). Vịt bị nhiễm nhiều vi sinh vật, lên tới bốn mầm bệnh cùng lúc. Tổ hợp virus Tembusu ghép với Escherichia coli có số mẫu phát hiện cao nhất (16 mẫu, chiếm 30.8%). Triệu chứng lâm sàng phổ biến là tiêu chảy phân xanh, chậm chạp, ủ rũ, lông xù, co giật, giảm đẻ (với vịt đẻ). Bệnh tích đại thể phổ biến là tim hoại tử (50%) và gan hoại tử (32,7%) và buồng trứng xuất huyết (với vịt đẻ).

Từ khóa: Virus Tembusu, Vịt, Triệu chứng, Bệnh tích.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp và Phát triển 2025, 13: 66-73.