Định danh phân tử ký sinh trùng đường máu Ehrlichia spp. ở chó tại Hà Nội

        Ehrlichiosis do một nhóm tác nhân gây bệnh do ve truyền có tầm quan trọng đối với cộng đồng thuộc chi Ehrlichia, họ Anaplasmataceae (Jafarbekloo A &cs, 2014). Ehrlichiosis ở chó là một bệnh truyền qua vectơ lây lan trên toàn thế giới. Bệnh này cũng được biết đến với tên gọi là bệnh Rickettsia ở chó, bệnh sốt phát ban ở chó, bệnh sốt xuất huyết ở chó, bệnh giảm toàn thể tế bào nhiệt đới ở chó và bệnh chó săn (Beall M.J. &cs, 2012). Nhiều loài Ehrlichia spp. nổi tiếng vì lây nhiễm cho nhiều loại động vật. Trong số đó, E. canis là tác nhân gây bệnh nổi tiếng của ehrlichiosis ở chó, ảnh hưởng đến tiểu cầu, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu hạt (Stiles J &cs ,2000; Lorsirigool A., Pumipuntu N, 2017-2019).

        Kết quả cho thấy, Ký sinh trùng máu phân lập ở chó tại Hà Nội được xác định thuộc loài E. canis, điều này cũng được khẳng định khi phân tích phả hệ và khoảng cách di truyền. Các chủng cùng loài E. canis tập hợp cùng nhóm trên cây phả hệ và có sai khác di truyền rất thấp trong khi các chủng khác loài sắp xếp xa hơn và có sai khác cao hơn. Bệnh ehrlichiosis ở chó được chẩn đoán bằng kính hiển vi và giải trình tự gen 16S rRNA. Các chủng E. canis có sự tương đồng về mặt di truyền với các chủng toàn cầu và tạo thành một nhánh đơn nguồn. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải chẩn đoán cẩn trọng và các chiến lược kiểm soát thay thế đối với bệnh ehrlichiosis, cùng với một cuộc điều tra trên toàn quốc về E. canis ở chó, vật trung gian truyền bệnh và người.

        Nghiên cứu cho thấy ký sinh trùng máu E. canis gây bệnh ở chó rất đáng quan tâm để có biện pháp phòng chống hiệu quả.

Hình 1. Cây phả hệ xác định phân loại của các chủng Ehrlichia canis của Việt Nam với các chủng/loài của chi Ehrlichia trên thế giới. Phân tích dựa trên so sánh trình tự nucleotide 16S bằng chương trình MEGA11, sử dụng phương pháp “tiếp cận cực đại” (maximum likelihood, ML) với bootstrap 1000 lần lặp lại. Giá trị bootstrap được ghi tại mỗi phân nhánh. Ghi chú: Sau tên loài (toàn bộ tên Latin) là ký hiệu chủng (trong ngoặc), tiếp đến là tên quốc gia mà chủng đó xuất xứ/phân lập và sau cùng là số đăng kí Ngân hàng gen. Hình tròn nhỏ chỉ các chủng của nghiên cứu này sắp xếp cùng với các chủng E. canis thê giới. Vạch ngang biểu thị sự thay thế nucleotide trên mỗi vị trí
Bảng 1. Khoảng cách di truyền (KCDT) tính toán dựa trên so sánh chuỗi nucleotide 16S của các chủng Ehrlichia canis của Việt Nam với các chủng cùng loài và khác loài thuộc chi Ehrlichia trên thế giới

Khoảng cách di truyền giữa các chủng nội và ngoại loài Ehrlichia canis

        Khoảng cách di truyền (KCDT) được tính toán giữa 14 chủng trong đó có 12 chủng của loài E. canis và 2 chủng của loài E. chaffeensis và loài E. ewingii trình bày ở Bảng 1. Kết quả cho thấy KCDT nội loài giữa 12 chủng trong loài E. canis có sự sai khác là 0.4–1.01%, trong khi đó giữa các loài E. canis và hai loài E. chaffeensis và loài E. ewingii (KCDT ngoại loài) là cao hơn (1.21–2.03%). Đa số các chủng nội loài của E. canis không có sai khác về KCDT, số còn lại rất thấp không quá 1%, trong khi đó sai khác KCDT ngoại loài lớn hơn 1.21%. Rõ ràng, khoảng cách di truyền cũng phản ánh rất đúng mối quan hệ của các chủng trong cùng một loài và các loài trong cùng một chi (chi Ehrlichia). Điều này thấy rõ ở sai khác rất thấp thậm chí không có sai khác giữa các chung E, canis của Việt Nam với một số chủng cùng loài trong khi tỷ lệ sai khác cao hơn rất nhiều giữa các chủng ngoại loài.

TS. Nguyễn Thị Hồng Chiên
BM Ký sinh trùng