Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của HEPES bổ sung trong môi trường bảo quản lạnh phôi bò in vitro ở điều kiện 4°C, đồng thời xác định nồng độ HEPES và thời gian bảo quản tối ưu đối với phôi bò ngày 7. Phôi bò in vitro được tạo ra thông qua quy trình chuẩn gồm nuôi thành thục trứng (IVM), thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và nuôi cấy phôi (IVC). Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ phôi sống, khả năng phát triển tiếp theo, tỷ lệ thoát màng và tổng số tế bào/phôi sau bảo quản.





Kết quả cho thấy môi trường TCM 199 bổ sung 50% huyết thanh thai bò (FBS) cho hiệu quả bảo quản phôi bò cao hơn so với môi trường PBS. Việc bổ sung HEPES có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sống và phát triển của phôi sau bảo quản lạnh. Trong các nồng độ khảo sát, HEPES 25 mM cho tỷ lệ phôi sống và tỷ lệ thoát màng cao nhất sau 24 giờ bảo quản ở 4°C (P < 0,05), trong khi các nồng độ thấp hơn hoặc cao hơn đều làm giảm hiệu quả bảo quản.

Đánh giá ảnh hưởng của thời gian bảo quản cho thấy phôi bò in vitro có thể được bảo quản hiệu quả ở 4°C trong khoảng 24–48 giờ mà không làm suy giảm đáng kể khả năng hồi phục và phát triển tiếp theo. Khi thời gian bảo quản kéo dài trên 48 giờ, tỷ lệ phôi sống, tỷ lệ thoát màng và tổng số tế bào/phôi nang giảm rõ rệt, kèm theo sự gia tăng hiện tượng apoptosis do stress lạnh. Trung bình tổng số tế bào/phôi nang ở nhóm bảo quản 24 và 48 giờ đạt trên 60 tế bào/phôi, trong khi các nhóm bảo quản từ 72 giờ trở lên đều giảm xuống dưới 45 tế bào/phôi.
Tổng hợp các kết quả cho thấy, môi trường TCM 199 bổ sung 50% FBS và 25 mM HEPES là điều kiện tối ưu để bảo quản phôi bò in vitro ở 4°C trong thời gian không quá 48 giờ. Quy trình này có tiềm năng ứng dụng thực tiễn cao trong các phòng thí nghiệm công nghệ phôi và các chương trình cấy truyền phôi bò, đặc biệt trong điều kiện vận chuyển ngắn hạn hoặc tại các cơ sở chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ, góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng phôi.
TS. Nguyễn Văn Thành – BM Ngoại Sản, Khoa Thú y

English