Seminar khoa học Nhóm nghiên cứu Công nghệ Phôi và Tế bào chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/05

        Nhân dịp chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/05, Nhóm nghiên cứu Công nghệ Phôi và Tế bào, Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức chương trình Seminar khoa học với chủ đề “Công nghệ phôi và tế bào trong thú y hiện đại: Kết quả và định hướng nghiên cứu tiếp theo” vào sáng ngày 07/05/2026 tại Khoa Thú y. Seminar là diễn đàn học thuật nhằm trao đổi các kết quả nghiên cứu mới, cập nhật xu hướng nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ phôi, sinh học tế bào và sinh sản thú y; đồng thời tăng cường kết nối giữa các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên trong nhóm nghiên cứu.

        Phát biểu khai mạc chương trình, đại diện Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển ngành Thú y hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ sinh sản, công nghệ phôi và ứng dụng sinh học phân tử. Chương trình seminar cũng là hoạt động thiết thực hướng tới Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/05, góp phần lan tỏa tinh thần nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên.

        Tại seminar, các báo cáo khoa học chuyên sâu đã thu hút nhiều ý kiến trao đổi học thuật sôi nổi từ giảng viên và nghiên cứu viên tham dự. Mở đầu chương trình chuyên môn, PGS. TS. Nguyễn Hoài Nam trình bày báo cáo về “Ảnh hưởng của hội chứng lứa hai đối với một số chỉ tiêu năng suất sinh sản và sự biến động của số con sơ sinh qua các lứa đẻ ở lợn”. Nghiên cứu cho thấy hội chứng lứa 2 ở lợn không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu số con sơ/ổ ở các lứa sau, tỷ lệ đẻ và khoảng cách đẻ. Một kết quả đáng quan tâm đó là, sự suy giảm số con sơ sinh ở lứa trước sẽ làm giảm nguy cơ suy giảm số con sơ sinh ở lứa tiếp theo, gợi ý rằng cần phải đánh giá năng suất sinh sản ở lợn qua ít nhất 2 lứa liên tiếp mới đưa ra các quyết định loại thải.

PGS. TS. Nguyễn Hoài Nam trình bày báo cáo về “Ảnh hưởng của hội chứng lứa hai đối với một số chỉ tiêu năng suất sinh sản và sự biến động của số con sơ sinh qua các lứa đẻ ở lợn”

        Tiếp theo, TS. Nguyễn Văn Thành trình bày kết quả nghiên cứu về bảo quản phôi bò in vitro ở điều kiện 4°C và vai trò của HEPES trong môi trường bảo quản. Báo cáo cho thấy môi trường TCM 199 bổ sung huyết thanh thai bò 50% giúp duy trì tỷ lệ phôi sống và phát triển sau bảo quản cao hơn so với môi trường PBS. Đặc biệt, việc bổ sung HEPES ở nồng độ 25 mM đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo quản phôi, giúp ổn định môi trường và duy trì khả năng phát triển của phôi trong thời gian bảo quản lên đến 48 giờ ở điều kiện 4°C. Kết quả nghiên cứu mở ra triển vọng ứng dụng trong vận chuyển, lưu giữ và cấy truyền phôi bò invitro trong thực tiễn sản xuất.

TS. Nguyễn Văn Thành trình bày kết quả : “Nghiên cứu ảnh hưởng của Hepes trong bảo quản phôi bò in vitro”

        Ở lĩnh vực sinh học thần kinh và điều hòa chuyển hóa, TS. Nguyễn Thành Trung trình bày nghiên cứu về biểu hiện của các peptide thần kinh liên quan đến cảm giác thèm ăn trên chuột nhắt trắng. Báo cáo đã làm rõ vai trò của các tín hiệu thần kinh trong điều hòa hành vi ăn uống và cân bằng năng lượng vùng dưới đồi, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về sinh lý và chuyển hóa ở động vật.

TS. Nguyễn Thành Trung trình bày nghiên cứu: “Biểu hiện peptide thần kinh liên quan đến cảm giác thèm ăn”

        Trong báo cáo “Đặc điểm hình thái và cấu trúc vi thể buồng trứng bò HF mắc u nang”, TS. Bùi Văn Dũng đã trình bày những biến đổi hình thái và mô học của cơ quan sinh dục bò Holstein Friesian mắc u nang buồng trứng, tập trung vào sự tái cấu trúc của ống dẫn trứng và đặc điểm cấu trúc–chức năng của thể vàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ống dẫn trứng có sự biến đổi rõ rệt theo chu kỳ sinh dục dưới tác động của estrogen và progesterone; tuy nhiên, tình trạng u nang buồng trứng làm suy giảm cấu trúc mô học, ảnh hưởng bất lợi đến quá trình thụ tinh và phát triển phôi. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng làm rõ tính dị thể cấu trúc–chức năng của thể vàng thông qua sự thay đổi tỷ lệ giữa tế bào lutein nhỏ (SLCs) và tế bào lutein lớn (LLCs), phản ánh cơ chế phối hợp trong quá trình phát triển, thành thục và thoái hóa thể vàng. Các kết quả này góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu bệnh sinh sản trên bò sữa.

TS. Bùi Văn Dũng đã trình bày báo cáo: “Đặc điểm hình thái và cấu trúc vi thể buồng trứng bò HF mắc u nang”

        Khép lại phần báo cáo chuyên đề, ThS. Nguyễn Đức Trường trình bày nghiên cứu về ảnh hưởng của axit lauric đến hiệu quả tạo phôi bò in vitro. Kết quả bước đầu cho thấy axit lauric có thể tác động tích cực đến sự phát triển thành thục trứng và phôi, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công nghệ sản xuất phôi trong điều kiện in vitro.

ThS. Nguyễn Đức Trường trình bày nghiên cứu: “Ảnh hưởng của axit lauric đến hiệu quả tạo phôi bò in vitro”

        Các báo cáo cho thấy định hướng nghiên cứu đa dạng của nhóm, tập trung vào các vấn đề có tính ứng dụng cao trong chăn nuôi và thú y hiện đại. Nhiều kết quả bước đầu đã mở ra triển vọng ứng dụng trong nâng cao hiệu quả sinh sản, cải thiện năng suất vật nuôi và phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên tiến. Phần thảo luận chung diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi chuyên môn về định hướng nghiên cứu trong thời gian tới, tăng cường hợp tác nghiên cứu, công bố quốc tế và ứng dụng kết quả khoa học vào thực tiễn sản xuất.

Phần thảo luận chung của các nhà khoa học tham gia chương trình
Toàn cảnh chương trình

 

Đại biểu tham gia chương trình
Đại biểu tham gia chương trình

Chương trình seminar đã diễn ra thành công tốt đẹp, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của Khoa Thú y nói riêng và Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung, đồng thời khẳng định vai trò của các nhóm nghiên cứu chuyên sâu trong phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Thú y Việt Nam.

Nhóm nghiên cứu Công nghệ Phôi và Tế bào – Khoa Thú y