Các yếu tố nguy cơ của hội chứng lứa đẻ thứ hai ở lợn nái Landrace × Yorkshire trong điều kiện nhiệt đới

H. Nam, D. T. K. Lanh, , N. V. Thanh, B. V. Dung, B. T. A. Dao, P. Sukon

        Hội chứng lứa thứ hai (Second litter syndrome), được định nghĩa là số con sinh ra còn sống ở lứa đẻ thứ hai bằng hoặc thấp hơn so với lứa đẻ thứ nhất, là một vấn đề sinh sản quan trọng trong các đàn nái thương mại trên toàn thế giới. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố liên quan đến hội chứng lứa 2 trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam. Dữ liệu từ 3.957 nái Landrace × Yorkshire đẻ lứa thứ hai trong giai đoạn 2024–2025 được phân tích bằng mô hình hồi quy logistic. Tỷ lệ hội chứng lứa 2 chung là 56,8%, với số con sinh ra còn sống trung bình là 12,7 ở cả hai lứa đẻ. Trong mô hình đa biến 1, số con sinh ra còn sống ở lứa đẻ thứ nhất là yếu tố dự đoán mạnh nhất, giải thích 50,3% biến động của mô hình (OR = 2,3; 95%CI: 2,2–2,4; p < 0,001). Tuổi phối giống sau cai sữa trong khoảng 344–440 ngày làm tăng khả năng xảy ra hội chứng lứa 2 lên 1,4–1,8 lần so với nhóm >470 ngày. Mô hình 2, khi loại bỏ biến số con sơ sinh còn sống lứa 1, đã xác định thêm các yếu tố nguy cơ khác, bao gồm số con cai sữa, khoảng cách từ cai sữa đến phối giống và tháng phối giống sau khi cai sữa lứa thứ nhất. Nái cai sữa >14 con có nguy cơ hội chứng lứa 2  cao gấp 3 lần so với nái cai sữa dưới 11 con (p < 0,001). Thời gian từ cai sữa đến phối giống ngắn (0–10 ngày) làm tăng nguy cơ hội chứng lứa 2 lên 1,3–1,4 lần so với thời gian từ cai sữa đến phối giống >17 ngày (p < 0,009). So với nái phối giống trong giai đoạn tháng 5–8, các nái phối giống trong giai đoạn tháng 9–4 có nguy cơ hội chứng lứa 2 cao hơn 1,7–2,1 lần (p < 0,001). Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ hội chứng lứa 2 cao và có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Để duy trì năng suất chung của đàn trong khi giảm nguy cơ hội chứng lứa 2, quản lý trang trại cần chú trọng đến các nái có số con sơ sinh còn sống lứa 1 cao, đảm bảo sự phục hồi của nái trước khi phối giống và giảm thiểu stress chuyển hóa.

Tropical Animal Science Journal, January 2026, 49(1):39-46

https://doi.org/10.5398/tasj.2026.49.1.39

TASJJanuary2026_39_2_2026_NS