Định danh dựa vào hình thái và phân tử ve nâu chó Rhipicephalus Linnaei dòng nhiệt đới thu tại một số phòng khám thú y ở khu vực Hà Nội, Việt Nam

Morphological and Molecular Identification of Brown Dog Ticks Rhipicephalus linnaei “Tropical Lineage” Isolated From Pet Dogs in Some small Animal Hospitals Around Hanoi, Vietnam

Nguyen Yen Thi Hoang1* , Tran Thi Huong Giang2, Vu Thi Thu Tra3

 1Bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Bộ môn Thú y cộng đồng, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tính cấp thiết

Ve nâu chó, Rhipicephalus sanguineus, phân bố rộng rãi trên thế giới. Dựa vào các dữ liệu về phân tử và phân bố địa lý, phức hợp R. sanguineus được phân chia thành 2 dòng: dòng nhiệt đới (Tropical lineage) và dòng ôn đới (Temperate lineage). Tuy nhiên, những dữ liệu về hình thái và phân tử gần đây đã tái thiết lập một loài mới có tên là T. linnaei, loài có nhiều đặc điểm hình thái giống R. sanguineus, dẫn đến định danh sai.

Mục đích nghiên cứu

Định danh và xác nhận loài ve thuộc giống Rhipicephalus ký sinh ở chó đang lưu hành tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu:

Ve trưởng thành được thu từ chó đến khám và sử dụng dịch vụ tại một số phòng khám tại Hà Nội, Việt Nam. Ve được định dang dựa vào đặc điểm hình thái và các đánh dấu phân tử như cox1, 12S rDNA và 16S rDNA.

Kết quả chính:

Loài ve Rhipicephalus được định danh trong nghiên cứu này là R. linnaei với các đặc điểm hình thái đặc trưng như sau: bàn thở hẹp, dài có dạng hình dấu phẩy ở con đực; lỗ sinh dục rộng, hình chữ U ở con cái. Phân tích di truyền chỉ ra rằng mẫu ve thu thập ở nghiên cứu này có quan hệ gần với loài R. linnaei có nguồn gốc từ Angola, khoảng cách di truyền giữa chủng nghiên cứu này với chủng R. linnaei có nguồn gốc từ Angola là 0,24%, 0,5% và 0,0% tương ứng với các đánh dấu phân tử cox1, 12S rDNA và 16S rDNA.

Hình 1. Đặc điểm hình thái của Rhipicephalus thu được từ nghiên cứu. A-F, con đực; G-M, con cái. Mắt (i), mai bụng (ii), hậu môn (iii, viii), festoon (iv), tấm thở (v, ix), lỗ sinh dục (vi), đốt háng I (vii), và hypostome (x).
Hình 2. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR. M: thang chuẩn 100bp; giếng 1: gen 12S rDNA; giếng 2: gen cox1; giếng 3: gen 16S rDNA. Mũi tên màu đỏ chỉ ra vị trí band có kích thước 500 bp.
Hình 3. Cây phát sinh loài của Rhipicephalus sp. dựa vào trình tự một phần của gen cox1.
Hình 3. Cây phát sinh loài của Rhipicephalus sp. dựa vào trình tự một phần của gen 12S rDNA
Hình 3. Cây phát sinh loài của Rhipicephalus sp. dựa vào trình tự một phần của gen 16S rDNA

Kết luận

Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự lưu hành của R. linnaei ở chó tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp thông tin về sự đa dạng di truyền của loài này trong phức hợp R. sanguineus ở Việt Nam, cung cấp thêm dự liệu về phân loại ve.

Từ khóa: Pet dogs, Rhipicephalus linnaei, Rhipicephalus sanguineus, Small animal hospital, Vietnam

Link bài báo: http://dx.doi.org/10.32598/ijvm.19.4.1005682